(PL)- Mấy bài trước đây ta đã bàn về “phần nước” của biển qua các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế.
Riêng bài này xin nói về “phần cứng” là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển - cái mà lâu nay ta nói với nhau là thềm lục địa (continental shelf).
Nói nôm na, thềm lục địa là... cái nền của lục địa. Cái nền thềm này bắt đầu từ đất liền (bờ biển) thoai thoải kéo dài ra biển và ngập dưới nước biển, đến một chỗ sâu hẫng xuống là hết thềm. Ngày nay các nước trên thế giới đều lấy bề rộng 200 hải lý làm chuẩn để xác định phạm vi thềm lục địa.
Theo quy định của Luật Biển quốc tế (Công ước Liên Hiệp Quốc 1982) thì nơi nào thềm lục địa không tới 200 hải lý (như ở biển miền Trung Việt Nam) thì cũng được tính thềm lục địa ra cho đủ 200 hải lý. Hơn thế nữa, thềm lục địa có thể mở rộng hơn (gọi là “thềm lục địa mở rộng”) nhưng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trường hợp mở rộng này luật quốc tế buộc quốc gia ven biển phải làm thủ tục thông báo với Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS) và gửi hồ sơ thông báo đến Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc với các bản đồ chỉ rõ ranh giới thềm lục địa của mình. Vừa rồi Việt Nam và Malaysia đã làm theo luật thì bị Trung Quốc lên tiếng phản đối!
Nói tóm cho dễ hiểu, ở vùng biển xa tuy không phải lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển (như nội thủy, lãnh hải) song đó vẫn thuộc quốc gia ven biển về mặt kinh tế. Nếu “phần nước” ở trên thì gọi là “vùng đặc quyền kinh tế”, còn “phần cứng” ở dưới - ở đáy biển và dưới đáy biển thì gọi là “thềm lục địa”. Nhiều khi thềm lục địa rộng hơn vùng đặc quyền kinh tế, vì nó không phải chỉ rộng có 200 hải lý mà có thể tới 350 hải lý.
Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, quốc gia ven biển có một số quyền chủ quyền đối với thềm lục địa, thể hiện qua quyền thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên khoáng sản, tài nguyên phi sinh vật - chủ yếu là dầu khí và tài nguyên sinh vật - chủ yếu là cá, tôm).
Đây là một đặc quyền mà nếu quốc gia ven biển không khai thác thì không ai có quyền thực hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia ấy. Quốc gia ven biển có quyền quy định và cho phép việc khoan thềm lục địa vì bất kỳ lý do gì, thường là khoan để kiếm dầu. Bên cạnh đó, quốc gia ven biển cũng có quyền tài phán để xử lý hành chính, xử lý hình sự đối với các vụ vi phạm...
Nếu luật biển dành cho quốc gia ven biển mấy đặc quyền kể trên thì luật biển cũng đã dung hòa quyền lợi cho tất cả các nước khác bằng cách để cho họ có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Trước khi thực hiện họ phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của dây cáp và ống dẫn...
Ra xa hơn, khỏi phạm vi của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ven biển, tất cả các nước đều hoàn toàn thoải mái, tự do. Nơi xa xôi ấy gọi là biển quốc tế và dưới đáy biển gọi là vùng (the area) mà toàn bộ tài nguyên của nó đều là tài sản chung của loài người. Ai có phương tiện ra đó thì cứ đến đó mà hưởng.
TS PHAN ĐĂNG THANH