Chào mừng bạn đến với chúng tôi
Kết quả 1 tới 9 của 9
  1. #1
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522

    Đi tìm màu tím hoa sim -

    Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ.
    TTO - 18-3 là ngày giỗ 10 năm thi sĩ Hữu Loan (1916-2010) giã từ cuộc thế. Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại những đồi sim ấy để tìm hồn thơ của ông và tình yêu bất tử với "nàng vá tấm áo cho chồng ngày xưa"...

    "Nàng có ba người anh đi bộ đội
    Những em nàng
    Có em chưa biết nói...
    Một chiều rừng mưa
    Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
    Được tin em gái mất
    Trước tin em lấy chồng".

    Đã 10 năm hương hồn nhà thơ Hữu Loan dạo chơi đồi hoa sim cùng cô gái bé nhỏ của mình, nhưng những dòng thơ tình của ông vẫn làm thổn thức biết bao trái tim.
    Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ TP Thanh Hóa, chúng tôi đi chừng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn, từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

    Đẻ rơi cửa chùa
    Chùa Vân Lỗi nép bên sườn núi quay hướng ra sông Mã, nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.
    Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.
    Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.
    Khi nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông đã "khoe" ngay: "Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu".
    Ông Dũng vừa nói vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng. Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn.
    Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Bà lê vào tới thềm chùa thì sinh rớt người con ngay ở đó. Sư trụ trì ngày ấy đã nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.
    Cậu bé lớn lên với trí thông minh học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào "điềm trời". Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan đã tỏa sáng khi ông đỗ "tú tài Tây" tại Hà Nội, thời ấy rất hiếm người đạt tới được.
    Chỉ cần có bằng cấp này là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời. Nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.
    Trong Địa chí Thanh Hóa (tập II, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 2004) vẫn còn ghi tên Hữu Loan là một trong số các giáo viên cao đẳng tiểu học vốn khá hiếm hoi vào thời kỳ đất nước chưa giành được độc lập.

    Cổng chùa ven núi Vân Hoàn là nơi người mẹ đẻ rơi cậu bé Hữu Loan rạng ngày 2-4-1916 - Ảnh: THÁI LỘC
    Bài thơ khóc vợ trên đường hành quân
    Cũng trong thời kỳ làm giáo viên tại Thanh Hóa, Hữu Loan đã có cơ duyên gặp người vợ đầu tiên trong đời mình, để sau đó làng thi ca Việt Nam xuất hiện những vần thơ bất hủ.
    Trong suốt hành trình chúng tôi theo tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.
    Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.
    Bà Tham Kỳ là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc...
    Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Bà Chất rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, đã mời Hữu Loan về kèm dạy học cho ba người con trai của mình.
    Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là một cô bé còn rất nhỏ.
    Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính người con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi. Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.
    Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: "Bố tôi kể rằng sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa. Mẹ Ninh lúc đó vô tình thấy cụ đang diễn thuyết; là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, đã tháo hết ủng hộ cách mạng.
    Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: "Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ". Là phụ nữ biết "bệnh" tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến anh Loan".
    Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất đưa những người con của mình về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách TP Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc. Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:
    "Ngày hợp hôn
    Nàng không đòi may áo cưới
    Tôi mặc đồ quân nhân
    Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
    Nàng cười xinh xinh
    Bên anh chồng độc đáo.
    Tôi ở đơn vị về
    Cưới nhau xong là đi!".

    Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.
    Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao đã từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: "Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh".
    Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.
    Bài thơ sau thời gian "truyền tụng ngầm", lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến "quy kết" bài thơ là "thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản", được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.
    Ở miền Nam, tác phẩm Màu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim. Đến năm 2004, Màu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng...

    Ảnh Hữu Loan và các bạn văn trưng bày tại Bảo tàng Văn học Việt Nam - Ảnh: THÁI LỘC chụp lại
    Trích đoạn Màu tím hoa sim
    ... Một chiều rừng mưa
    Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
    Được tin em gái mất/ trước tin em lấy chồng
    Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
    Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
    Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí
    Chiều hành quân qua những đồi sim
    Những đồi sim dài trong chiều không hết
    Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
    Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
    Áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu...


    Người em trai "nàng thơ" kể suốt mấy chục năm trời gia đình không ai dám đọc dám nghe bài thơ Màu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự "rờn rợn", đau đớn, tiếc thương.
    Nguyễn Ngọc Hùng

  2. #2
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    TTO - Người em trai 'nàng thơ' bảo rằng, suốt mấy chục năm trời gia đình không ai dám đọc dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự 'rờn rợn', đau đớn, tiếc thương.

    Tìm về "nàng thơ"

    Từ TP Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống - nơi được ghi nằm lại của "người vợ chờ bé bỏng chiều quê". Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: "Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở TP Thanh Hóa, cũng là quê của bà".
    Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.
    Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng giới thiệu say sưa về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.
    Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải rằng ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ. Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.
    Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.
    Phần mộ "nàng thơ" nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: "Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949". Sau thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng để tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.
    Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là "nàng thơ" dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông "hi vọng" nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.
    Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng "bắt phải vàng" ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: "Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa".
    Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là "người vợ chờ bé bỏng chiều quê" của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.

    “Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương” vẫn đang được gia đình lưu giữ - Ảnh: NGUYỄN HỮU ĐÁN
    Ám ảnh người chị xoáy theo dòng nước
    Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình - em trai "nàng thơ" - và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội. Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán.
    Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5-7 mẫu.
    Đến đoạn giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước mấy chục năm nay vẫn mãi trong tâm trí mình.
    "Sông Chuồng hôm ấy trong mùa nước dữ, chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa cũng theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn thấy chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi.
    Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa" - ông Bình kể.
    Bà Đái Thị Ngọc Chất tang trùng tang, đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.
    Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường CĐ nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.
    Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có "khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn" và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.
    Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.
    Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó "suốt ngày đọc sách, rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang".
    Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.
    Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim "đã công khai, nổi tiếng như cồn". Ông kể: "Anh Loan bảo tôi: "Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này".
    Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười người con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào".

    Mộ phần bà Lê Đỗ Thị Ninh ở làng Định Hòa, Đông Cương, Thanh Hóa - Ảnh: THÁI LỘC
    Gia đình "nàng" không dám nghe bài thơ
    Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.
    "Bây giờ chúng tôi già rồi, "trơ" ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi vì anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.
    Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi "ngồi bên mộ con đầy bóng tối", "bình hoa ngày cưới thành bình hương"... tất cả đều thật hết" - dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.
    Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình "nàng thơ" Mầu tím hoa sim cho biết rằng Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.
    Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì lý do hai bên có những điều khác nhau nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.
    Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ: "Rể khôn đền, gái ngắn phận sao đền, ơn cứu, ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách/ Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc nguồn, khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương".
    Mà không buồn sao được, những đoạn trong Mầu tím hoa sim viết thật đến mức… rờn rợn về bối cảnh, về người mẹ và về ba người anh “biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng”.
    Đó là anh đầu Lê Đỗ Khôi (liệt sĩ trong trận Điện Biên Phủ), anh kế Lê Đỗ Nguyên (tức trung tướng Phạm Hồng Cư, nay 94 tuổi, đang ở Hà Nội) và Lê Đỗ An (nguyên phó Ban Dân vận Trung ương Đảng).
    Về “những em nàng” là Lê Đỗ Khang, Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ Thái và “em chưa biết nói” là Lê Thị Như Ý (lúc ấy chưa đầy 2 tuổi, đang là giáo viên về hưu ở Hà Nội)…

    Hữu Loan từng làm "quan to" ở Thanh Hóa và "công việc sang trọng" ở báo Văn Nghệ, hội viên Hội Nhà văn VN, nhưng cả hai lần ông bỏ ngang về quê bởi cá tính bộc trực, quyết liệt của mình.

    Nguyễn Ngọc Hùng

  3. #3
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 3: Khí phách sau những vần thơ tình thổn thức

    Tham gia thành lập chính quyền

    Trước Cách mạng Tháng 8, năm 1936, Hữu Loan tham gia nhiều phong trào chống Pháp tại quê nhà cho đến năm 1943 thì làm phó chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Nga Sơn.
    Lịch sử Đảng bộ xã Nga Lĩnh ghi giai đoạn cuối năm 1942 - đầu năm 1943: "Các đồng chí Nguyễn Hữu Loan (làng Vân Hoàn) và Phạm Minh Thanh (xã Nga Thanh ngày nay) là cán bộ Việt Minh đang hoạt động tại thị xã Thanh Hóa đã trở về địa phương xây dựng tổ chức Việt Minh. Hai đồng chí đã tích cực vận động giác ngộ, kết nạp được một số hội viên cứu quốc như các đồng chí... Đầu năm 1943, tại làng Vân Hoàn thành lập được tổ chức Việt Minh do đồng chí Nguyễn Hữu Loan phụ trách".
    Tài liệu này cũng chú thích rất cụ thể: "Đồng chí Nguyễn Hữu Loan là người làng Vân Hoàn (Nga Lĩnh) lúc này là giáo viên và là cán bộ Việt Minh dạy học tại thị xã Thanh Hóa. Do cơ sở Việt Minh bị lộ, đồng chí đã trốn khỏi sự vây ráp của kẻ thù về địa phương tiếp tục hoạt động".
    Trong nạn đói khủng khiếp gây chết hàng loạt tại Thanh Hóa, tổ chức Việt Minh tại Vân Hoàn do Hữu Loan đứng đầu đã vận động lý trưởng không thu thuế nhà nghèo, chỉ thu thuế những nhà giàu nhưng không nộp lên trên.
    Tài liệu Đảng bộ xã ghi: "Đồng chí Nguyễn Hữu Loan đã dẫn đầu đoàn đại biểu của làng Vân Hoàn lên huyện đấu tranh đòi khất thuế... Tổ chức Việt Minh tại các làng phát động phong trào kiên quyết cứu đói cho dân bằng mọi hình thức như vận động nhà giàu cho dân vay thóc, kêu gọi mọi người đồng tâm bớt sữa, góp gạo nấu cháo cứu đói... do đó đã kịp thời giúp nhân dân thoát khỏi nạn đói".
    Hữu Loan cũng tích cực tham gia lãnh đạo các hoạt động tại địa phương chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Một đội tự vệ cứu quốc cấp xã ở Nga Lĩnh lúc đó được thành lập gồm 71 đội viên, riêng làng Vân Hoàn của Hữu Loan tham gia đến 30 người.
    Cách mạng Tháng 8 thành công, Hữu Loan tham gia thành lập chính quyền, làm ủy viên văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, được xem tương đương chức phó chủ tịch tỉnh phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và công chính. Nhưng rồi ông "bỏ ngang" về quê Vân Hoàn, Nga Sơn trong sự bất ngờ của nhiều người.
    Nhà thơ Nguyễn Văn Túy - phó chủ tịch thường trực Hội VHNT Thanh Hóa - nói: "Hồi đó do bất đồng quan điểm nên ông bỏ ngang về quê chứ chẳng hề bị kỷ luật gì".
    Ông Túy biết chuyện, bởi khi làm chánh văn phòng hội, ông nhận nhiệm vụ đi "xác minh lý lịch" để khôi phục lương hưu cho Hữu Loan giai đoạn từng làm việc ở báo Văn Nghệ.
    Gặp gỡ nhân chứng và tâm sự với Hữu Loan, ông cho biết: Thời ấy, Hữu Loan nằm trong ban vận động quyên góp ủng hộ cách mạng Tuần lễ vàng. Người dân đóng góp vàng bạc rất nhiều nhưng có người trong bộ phận quản lý có dấu hiệu biển thủ, Hữu Loan đã thẳng thừng lên tiếng rồi chỉ mặt từng người dẫn đến bất đồng, sau đó ông bỏ về quê.

    Con trai út và chân dung người cha Hữu Loan cùng bằng công nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật - Ảnh: THÁI LỘC
    Rời báo Văn Nghệ
    Sau khi tiếp quản thủ đô 1954, Hữu Loan ra Hà Nội làm biên tập cho báo Văn Nghệ, đến năm 1957 thì tham gia thành lập Hội Nhà văn VN.
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải nêu thực tế thời Hữu Loan làm báo Văn Nghệ, vào Hội Nhà văn VN: "Hội nhà văn hồi ấy sang trọng lắm, ai mà hội viên Hội nhà văn được coi như "siêu nhân", thậm chí đi đâu cũng được bí thư tỉnh ủy tiếp".
    Vậy mà Hữu Loan lại bỏ công việc nhiều người mơ ước ở Hà Nội về quê Nga Sơn lao động thồ đá. Nhiều người cho rằng ông bỏ về quê vì "liên quan đến vụ Nhân văn - Giai phẩm".
    Ngay ở quê Vân Hoàn, theo lời người con Nguyễn Hữu Vũ, nhiều cán bộ chính quyền địa phương gọi thẳng họ là "con (của nhà văn) Nhân văn - Giai phẩm".
    Trên thực tế, thi sĩ Mầu tím hoa sim liên quan thế nào với phong trào văn nghệ này và vì sao ông lại từ bỏ "công việc sang trọng" về quê?
    Nhà văn Hoàng Quốc Hải - người khá nhiều lần gặp gỡ Hữu Loan - cho rằng: "Hữu Loan không bị án kỷ luật gì. Ông bỏ việc sang trọng về quê là do khí phách nhà thơ can đảm, dám chịu trách nhiệm việc mình làm, dám nói thẳng với cấp trên về vấn đề gay cấn của xã hội".
    Tương tự, nhà thơ Nguyễn Văn Túy khẳng định: "Trong toàn bộ lý lịch của cụ Hữu Loan không hề bị một cái kỷ luật gì hết. Cụ không (tham gia) Nhân văn - Giai phẩm, mà do bất đồng quan điểm với một số cá nhân ở trong Hội nhà văn của ông, thì ông bỏ về".
    Khôi phục lương hưu
    Theo nhà thơ Nguyễn Văn Túy, chính nhờ không có kỷ luật gì trong lý lịch nên Hữu Loan được khôi phục lương mức chuyên viên 3 về hưu. Ông kể khi tiến hành làm hồ sơ, "cái tính gàn của cụ" làm ông bao phen khổ sở.
    Hồi đó, vì giận một người con không nghe lời cụ mà "nghe theo cán bộ chính quyền", cụ nhất quyết không ký vào hồ sơ nếu có tên người con này: "Tôi viết tên con ông ấy, ông không ký. Cuối cùng, tôi gửi lại hồ sơ cho ông Kiều Vượng (lúc ấy là đại diện báo Văn Nghệ ở miền Trung - NV).
    Ông Vượng lại phải ra Hà Nội nhờ ông Hữu Thỉnh. Ông Hữu Thỉnh lại phải vào thuyết phục ông ấy thì ông mới ký. Nó khó khăn đến mức độ như thế chứ không phải dễ".
    Chưa hết, ông Túy kể tiếp nhà thơ Hữu Loan còn đòi được truy lĩnh lương cả giai đoạn bỏ việc về quê: "Tức là cụ bỏ cụ về nhưng cụ đòi truy lĩnh mấy chục năm trời. Tôi bảo không được đâu".
    Ông Túy giải thích thêm với nhà thơ rằng chế độ lương hưu dựa trên tiền đóng góp bảo hiểm một phần của cá nhân và của cơ quan trong giai đoạn làm việc. Lúc đó ông cụ mới ký vào hồ sơ...
    Thi sĩ lãng mạn mà khí phách
    "Tôi thân với Hữu Loan ở Thanh Hóa trong thời gian Trường Bưởi (Chu Văn An) Hà Nội sơ tán về tỉnh này. Đến hồi giành chính quyền năm 1945, chúng tôi vẫn liên lạc với nhau dù tôi hoạt động ở Hà Nội, còn Hữu Loan tham gia ở quê nhà là chính.
    Phải khẳng định anh thông minh, giỏi tiếng Pháp và đọc nhiều thơ tác giả Pháp, nên bài Mầu tím hoa sim của anh vừa diễm lệ ái tình vừa có phong cách hiện đại, bi tráng của thơ tình phương Tây" - ông Hoàng Giáp (tức Hoàng Tấn Anh, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh 523, sư đoàn 304 tham chiến ở Điện Biên Phủ) kể lại.
    Từng nhắc nhiều về các bạn Hữu Loan, Quang Dũng, Văn Cao, ông Hoàng Giáp đã tâm sự rằng những tên tuổi này đều có tác phẩm để đời và "lên bờ xuống ruộng" vì một thời bị quy kết "ủy mị tiểu tư sản". Trong đó, Hữu Loan là người "nóng tính" nhất mà có lẽ dùng đúng từ là "khí phách".
    Tài hoa, trong sáng, nhưng cuộc đời Hữu Loan lại rất lận đận, khó khăn và bị hiểu nhầm.
    Có lẽ, không ai tìm thấy một "cái tội" nào trong lý lịch Hữu Loan, nhưng ông vẫn "bị tội" trong suy nghĩ của một số người, dù rằng rất nhiều người mến mộ tài năng và tính cách ngay thẳng của ông.
    Q.M.

    ________________________________
    Sau cuộc hôn nhân thứ nhất với nỗi đau khôn nguôi để lại đời áng thơ Mầu tím hoa sim diễm lệ, duyên số lại đưa đẩy Hữu Loan đến với "em là con đồng xanh"...
    Nguyễn Ngọc Hùng

  4. #4
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 4: Yêu nhau cởi áo cho nhau

    TTO - Sau nỗi đau của lần hôn nhân thứ nhất và để lại cho đời áng thơ làm thổn thức hàng triệu con tim Mầu tím hoa sim, duyên số lại đưa đẩy nhà thơ Hữu Loan đến với người vợ thứ hai và cũng là "nàng thơ" của tác phẩm Hoa lúa trứ danh: Phạm Thị Nhu.


    Hữu Loan và người vợ “Hoa lúa” Phạm Thị Nhu - Ảnh THÁI LỘC chụp tư liệu gia đình
    Bà Nhu sinh cho Hữu Loan 10 người con và cùng ông vượt qua bao gian khổ, thăng trầm đến những ngày cuối đời.
    Một dạ theo chồng
    Phạm Thị Nhu sinh năm 1935, thua Hữu Loan 19 tuổi.
    Kể về cơ duyên gặp nhau của bố mẹ mình, ông Nguyễn Hữu Đán, người con thứ tám, cho biết: "Khoảng năm 1952, bố tôi về dạy học ở chỗ Trường THPT Mai Anh Tuấn, huyện Nga Sơn bây giờ. Trong số học trò của cụ còn có anh trai họ của mẹ tôi. Nhà ngoại tôi lúc trước là địa chủ, đất đai ở vùng Nga Sơn nhiều lắm".
    Sau cải cách ruộng đất, gia đình bà Nhu ly tán, bà phải đi chăn bò ở vùng quanh trường. Mỗi lần thả bò, bà Nhu cùng mấy người bạn mục đồng tranh thủ tới lấp ló ngoài cửa lớp để nghe Hữu Loan dạy. Những lời thơ từ người thầy điển trai làm mê mẩn cô gái 17 tuổi.
    Sau này kể lại với con cháu về những ngày đầu thấy Hữu Loan đứng trong lớp giảng Kiều, ngâm thơ, bà Nhu cho hay "nhiều đêm liền không ngủ được mà cứ thấy hình ảnh ông ấy đứng ngâm thơ".
    Bà Nhu không ngờ rằng đôi mắt trong veo của mình cũng được nhà thơ để ý.
    "Cụ lấy mẹ tôi vào năm 1953, đến năm sau thì sinh anh cả tôi là Nguyễn Hữu Cương", ông Đán kể đến đây thì chậm rãi ngâm những câu thơ đầu trong bài Hoa lúa của bố mình viết tặng mẹ:
    "Em là con gái đồng xanh
    tóc dài
    vương hoa lúa
    Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
    giếng ngọt
    cây đa

    Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
    Nhạc quê hương say đắm trong lời em
    từng lời...".

    Thời điểm bà Nhu sinh người con trai đầu lòng, Hữu Loan đang ra Hà Nội để làm việc ở báo Văn Nghệ.
    "Lúc ấy bà sinh con xong bị đói, chẳng có chi mà ăn, cứ thế nhịn đói. Mấy hôm sau bố tôi mới về. Rồi sau đó bố đưa vợ con ra Hà Nội, xin cho mẹ tôi vào làm ở chỗ Nhà máy Dệt kim Đông Xuân. Bà làm ở đó một thời gian cho đến khi bố tôi bỏ về Thanh Hóa, bà lại ôm con theo về.
    Cả đời bà, ông đi đâu bà theo đó, chẳng khi nào trách ông một lời", ông Đán kể tiếp.

    Căn nhà của gia đình thi sĩ thời khốn khó - Ảnh: THÁI LỘC
    Làm bánh bán chui
    Năm 2013, khi Hữu Loan mất được ba năm, bà Nhu cũng đi theo chồng.
    "Bà làm bánh ướt, bún mộc từ khi về lại thôn Vân Hoàn sinh sống, cho đến năm bố tôi mất bà mới nghỉ, ngót nghét cũng 50 năm", ông Nguyễn Hữu Vũ, người con thứ tư, nói khi dẫn chúng tôi về thăm mái nhà xưa đang thờ bố mẹ mình.
    Từ ngày ông bà mất, nơi đây cũng không còn ai ở, chỉ còn tiếng chim xanh véo von trên những tán nhãn che mát cả mảnh vườn nhỏ. Trong căn nhà cũ kỹ phía bên lối phải từ cổng đi vào, cái bếp nơi bà Nhu nấu bánh lúc sinh thời vẫn còn đó.
    Cái cối đá để xay bột do tự tay nhà thơ Hữu Loan đục đẽo cho vợ mình làm bánh vẫn còn nằm ở góc sân. Lâu không sử dụng, cả mặt cối phủ đầy đất, có cả những mầm cỏ lún phún mọc phía trên.
    "Phải những năm 1980 bà mới có bếp để nấu, chứ trước đó nữa toàn là nấu chui, bán chui cả", ông Vũ cười nhớ lại cả tuổi thơ khốn khó của mình. Ông Vũ vẫn nhớ như in thời "ngăn sông cấm chợ", vài ba đồng tiền thồ đá của nhà thơ Hữu Loan không bõ bèn gì so với cả chục miệng ăn.
    Tối đến, nhà thơ phải lần mò trong đêm phụ vợ mình xay bột, làm bánh.
    Bà Nhu tráng bánh ướt ngon có tiếng trong vùng. Nhưng để có bánh bán cho khách không phải là chuyện dễ.
    "Thời đó không có dầu ăn, muốn tráng bánh phải có mỡ lợn. Mà bị cấm sản xuất, giết mổ, chỉ còn cách lén lút nuôi lợn trong một chuồng kín không cho ai biết. Đến khi lợn lớn, phải chọn đêm tối, phải tống đầu lợn vào một bao gai đầy tro và ớt để nó sặc không kêu được rồi dìm xuống ao cho chết hẳn.
    Mổ cả con lợn cũng trong bóng tối, không dám thắp đèn vì sợ người ta biết", giọng ông Vũ run run khi đứng bên ao cá trong vườn. Mặt nước ao cá trong veo, yên tĩnh, nhưng ông Vũ như soi vào đó cả trời ký ức khổ ải.
    Có được miếng mỡ, mỗi lần làm bánh phải dùng lá cây bít những lỗ quanh nhà kẻo sợ hương thơm mỡ phi hành bay xa. Mỗi khi bà Nhu tráng bánh, con cái lại phải thay nhau đứng canh chừng trước cổng. Làm ra mẻ bánh, trong khi chồng đi thồ đá thì bà Nhu lại phải "canh bán".
    "Làm bánh ra không dám để trong nhà, sợ người ta vào là bắt luôn cả cối đá, xoong nồi làm bánh. Bà phải đem ra đồng giấu. Bà làm bánh, ủ bún ngon nhất làng nên người ta cứ tới hỏi mua. Ai mua thì sai anh em chúng tôi lén đưa đi giao, lấy tiền về", ông Vũ kể thêm.
    Hữu Loan đã chọn cách sống cùng khổ bằng lao động chân tay, để có chút niềm vui là tri thức của mình không bị áp đặt, lệ thuộc. Còn bà Nhu cả đời khổ ải theo chồng, có lẽ chỉ có niềm vui duy nhất là vun vén được cho chồng con.
    Ông Vũ xúc động tâm sự về người mẹ mà ông mang khuôn mặt "như đúc": "Tính bà cũng bộc trực, ông hay nói bà thiếu tế nhị vì bà thấy cái gì cũng hay nói thẳng. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ thấy bà cãi ý ông.
    Bà chăm sóc chồng con hết lòng bằng cách đơn giản nhất là kiếm cái quần cũ sửa lại cho ông mặc, tằn tiện lo rau cháo, nhường hết cho chồng con có cái ăn hằng ngày".
    Hữu Loan cũng rất mực yêu vợ. Những năm không còn phải chịu cảnh bán bánh chui, rổ rá phải vá chằng vá đụp, người trong làng chiều chiều vẫn nghe ông bà vừa cùng xay bột vừa hát dân ca.
    "Mãi về già sau này khi đã 90 tuổi, cụ vẫn thường hay khen nịnh mẹ tôi đẹp. Bà nghe thích lắm, lúc nào ông khen bà cũng cười tít mắt", ông Vũ cười kể, rồi bất giác ông nhìn lại cái cối đá mà khi xưa bố mẹ cùng nhau xay bột, ngâm lên những câu thơ cuối trong bài Hoa lúa.
    Ông Vũ cho biết mẹ mình yêu chồng hết mực nên cũng có một tính là... rất ghen. "Bà ghen ác (dữ) lắm! Mấy cô nhà thơ, cô giáo ngưỡng mộ cụ, hay tới thăm và trò chuyện thân mật với cụ là bà ghen hết.
    Có đợt cụ chụp hình với một nhà thơ nữ, bà ghen quá lấy kéo cắt cái hình nhà thơ nữ vứt đi. Thỉnh thoảng nghe ông khen người vợ trước tốt đẹp thế này thế kia, bà cũng đánh tiếng ghen. Chuyện bà ghen, cả hội văn nghệ hay lui tới thăm cụ sau này đều biết", ông Vũ cười kể.
    “ ... Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
    Cầm tay trao một miếng trầu
    Yêu nhau cởi áo cho nhau
    Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay...”.

    Bài thơ Hoa lúa được Hữu Loan sáng tác năm 1955, đề dành tặng bà Phạm Thị Nhu.
    Theo lời chính tác giả kể lại với người nhà, bài thơ vừa được viết, nhà thơ Nguyễn Bính lúc bấy giờ đã trả nhuận bút 15 đồng để đăng trên báo Trăm Hoa.

    "Tôi đẩy xe đi
    đá nặng dốc dài
    Dốc chang chang trên nắng dưới người
    Nắng chảy ròng ròng từ lưng trần từ râu không cạo".


    Nguyễn Ngọc Hùng

  5. #5
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 5: Nhà thơ tình đi thồ đá

    TTO - Núi Vân Hoàn (Nga Sơn, Thanh Hóa) hướng về thôn dân ở là một vách đá thẳng đứng, dấu vết thời gian dài dân nghèo quanh núi lấy đá đem bán.


    Ông Ngô Văn Đương kể chân núi lở lói nơi mình ngồi là chốn Hữu Loan còng lưng thồ đá ngày trước - Ảnh: THÁI LỘC

    Cụ bảo chiếc xe để cụ thồ đá nuôi con, nếu cán bộ bắt xe thì cụ sẽ dẫn cả bầy con lên giao cho cán bộ, rồi cụ ra giữa chợ ăn xin. Lúc đó, người ta xì xào cán bộ để ông Hữu Loan phải đi ăn mày thì đừng trách.
    Nay núi đã được dừng khai thác nhưng với nhiều người lớn tuổi trong thôn, hình dáng cụ Tú Loan, tức nhà thơ Hữu Loan, dường như vẫn còn hằn trên từng mảng đá lở lói.

    Vai thồ đá, sách lận lưng
    Trở lại Vân Hoàn giữa trời chiều nắng cháy, chúng tôi gặp ông già chăn bò dưới chân núi đá từng ngập mồ hôi bao phận nghèo đục đẽo, thồ đá mưu sinh thời khốn khó.
    Trước mặt ông là cánh đồng cói xanh rì, xen kẽ những hàng sầu đông trơ xương chắn ngang tầm nhìn ra phía sông Mã, khiến cảnh vật càng u uẩn, xám xịt.
    "Hỏi đúng người đấy. Từ năm lên mười tuổi tôi đã đi phụ thồ đá, từng đẩy đá cùng ông Tú Loan. Khổ thân ông cụ, xưa đẩy xe cút kít thồ đá, cơ cực trăm bề" - ông chăn bò nói ngay khi chúng tôi hỏi về thi sĩ Hữu Loan.
    Người mục đồng này tên là Ngô Văn Đương, 63 tuổi, cùng thôn Vân Hoàn, sống cách nhà Hữu Loan vài trăm thước. "Xưa chúng tôi lấy đá ngay tại đây đấy, đến chừng mười năm rồi Nhà nước cấm không cho lấy nữa mới thôi. Cái thời ấy đói kém, nhà ai cũng cơ cực.
    Nhưng ông Tú Loan khốn cùng hơn ai hết, không như người ta dù ít dù nhiều cũng có lúa có khoai hay cá thịt hợp tác. Cụ không vào hợp tác, nên chẳng thồ đá thì không biết lấy gì ăn dù chỉ là cháo loãng cho chục đứa con" - ông Đương nhớ lại.
    Cả thời thanh niên của ông Đương, ngày nắng hay mưa đều gặp nhà thơ Hữu Loan ngay dưới ngọn núi đá xanh này.
    "Hồi đó cực nhọc như thế mà cụ Tú Loan cũng làm nhiều bài thơ về việc thồ đá, về chiếc xe và việc đẩy xe cút kít của ông ấy - nói đoạn, ông Đương buột miệng đọc:
    "Đẩy xe cút kít
    Quay tít tù mù
    Tiền thì chẳng được mấy xu...".

    Theo ký ức của ông Đương, một khối đá lúc ấy được 3 đồng, rất nhiều người làng bám víu công việc thồ đá phụ thêm vào miếng ăn vốn rất ít ỏi từ ruộng đồng hợp tác chia được. Vậy mà ai đi thồ đá khi ấy cũng chỉ dằn bụng bằng rau, khoai qua bữa.
    Cùng thiếu, cùng đói, nhưng "kiểu ông Tú Loan thồ đá thì khó ai quên. Cả làng này ai cũng quý ông cụ đỗ tú tài Tây, hỏi cái gì cũng biết. Hơn nữa cũng không có ai đi thồ đá mà giắt theo sách tiếng Tây tiếng Tàu để đọc khi nghỉ ngơi như ông ấy cả", ông Đương bật cười.

    Phần mộ thi sĩ Hữu Loan ở sườn núi Vân Hoàn - Ảnh: THÁI LỘC
    Nếu cán bộ bắt xe, nhà thơ đi ăn mày
    Trong một bài thơ viết năm 1988, Hữu Loan kể thời thồ đá:
    "Tôi đẩy xe đi
    đá nặng dốc dài
    Dốc chang chang trên nắng dưới người
    Nắng chảy ròng ròng từ lưng trần từ râu không cạo".

    Nhưng cái nắng rát, khối đá nặng, con dốc dài không phải là chuyện truân chuyên nhất trong quãng đời thồ đá. Riêng ông còn gặp nhiều trắc trở khác so với các "đồng nghiệp" phu đá đương thời.
    Khi hỏi hình ảnh nhớ nhất về cha mình, những người con của ông luôn bật ra hình ảnh một người bố ăn mặc phong phanh áo vá, gồng lưng quai từng xe đá qua con dốc núi lởm chởm gồ ghề.
    Ông Nguyễn Hữu Vũ - nay đã tuổi 60, từ lúc chưa đầy 10 tuổi đã ra bãi đá phụ bố - kể lại mà không kìm được giọng nghẹn ngào: "Thời đó có bữa chỉ được dúm rau luộc ăn tạm rồi đi thồ. Có lần bố tôi đang đẩy xe cút kít lên dốc thì đứng lại lảo đảo. Tôi hỏi sao, cụ bảo bố đói quá choáng váng chút thôi. Rồi cụ lại nghiến răng đẩy tiếp hết lượt xe mới nghỉ. Bữa đó nghỉ sớm".
    Dĩ nhiên ông Vũ cũng không thể quên được chiếc xe cút kít bằng gỗ do bố mình đóng gồm một thùng lớn có bánh xe phía trước, trên hai càng chống phía sau là hai tay cầm nối với nhau bằng một dây quai. Mỗi lần thồ, nhà thơ chất đá lên thùng, đeo quai vô vai, hai tay gồng giữ hai càng rồi đẩy tới. Chiếc bánh gỗ cứ thế "ò e cút kít".
    Theo lời ông Nguyễn Hữu Dũng - em họ của Hữu Loan, có lần nhà thơ bị đá rơi trúng chân, vết trầy xước lở loét miệng mãi không lành nên người ta nghi bị sâu quảng.
    "Hồi đó thuốc men có đâu, mà nếu có ông cũng không có tiền để mua. Vậy là ông Loan đã giã ốc sên đắp vào, mãi sau chỗ chân bị đá rơi ấy mới dần khỏi" - ông Dũng thương nhớ ngậm ngùi.
    Chiếc xe cút kít gỗ nặng trịch đó về sau đã được nhà thơ dùng làm củi nhóm lò cho vợ làm bánh. Đó là giai đoạn mà người phu đá Hữu Loan mua được một chiếc xe đạp hiệu Thống Nhất (hiệu xe đạp thông dụng thời bấy giờ - PV) chế lại thồ đá.
    Tưởng chừng như có chiếc xe đạp, việc thồ đá sẽ nhẹ nhàng hơn. Nhưng nhà thơ lại gặp phải vấn đề khác. Người con trai Nguyễn Hữu Đán kể: "Hồi đó xe đạp còn được quản lý kỹ, có bảng số.
    Cụ chế chiếc xe đi thồ được thời gian thì các cán bộ xã đòi thu giữ vì chiếc xe của cụ bị xem là chế hàng lậu". Chuyện là chiếc xe thồ đá nặng quá khiến cái phuộc bị vẹo, Hữu Loan đã lấy xà beng bằng sắt Liên Xô chế lại. Chiếc "xe Thống Nhất, phuộc sắt Liên Xô" bị tịch thu lên xã vì lý do chế xe.
    Nguy cơ mất "cần câu cơm", nhà thơ Hữu Loan đã lên gặp cán bộ phản ứng rất dữ.
    "Cụ bảo chiếc xe để cụ thồ đá nuôi con, nếu cán bộ bắt xe thì cụ sẽ dẫn cả bầy con lên giao cho cán bộ, rồi cụ ra giữa chợ ăn xin. Lúc đó, người ta xì xào cán bộ để ông Hữu Loan phải đi ăn mày thì đừng trách", ông Đán kể.
    Biết tính Hữu Loan từ xưa hễ nói là làm, không nói đi nói lại, việc bắt xe sau đó được "cho qua". Có lại xe nhưng trở về bãi đá, có lẽ sự can thiệp nào đó từ cán bộ mà những người nổ mìn phá đá không bán cho ông nữa.
    "Từ đó, cụ phải tự mình kiếm chỗ đá mồ côi, tự tay dùng xà beng bẩy, rồi đục cho lên xe thồ bán. Cụ vẫn tiếp tục làm đến khi sức khỏe không thể thồ đá được nữa và khi con cái đã lớn mới thôi.
    Tính cụ rất thẳng, quyết không thỏa hiệp hay nản chí, không vì bất cứ lý do gì mà thay đổi ý định. Người ta không muốn cụ làm thì nhất định cụ phải làm", ông Đán kể thêm.
    Núi đá, đời người. Cả đời nhà thơ Hữu Loan gắn liền với ngọn núi Vân Hoàn. Được đẻ "rơi" nơi chân núi, phần lớn cuộc đời ông cũng ở căn nhà nát cách chân núi vài trăm thước. Núi cho ông đá để giữ phẩm chất làm người, dìu dắt vợ con đi qua những tháng năm cùng khổ nhất.
    Giờ mộ phần Hữu Loan cũng nằm trên sườn phải của núi, hướng ra sông Mã. Hai bên chừa hai phần đất, một phần sẽ đặt mộ phần người vợ "hoa lúa" Phạm Thị Nhu.
    Phần còn lại, những người con cho biết nếu không chuyển người vợ "hoa sim" Lê Đỗ Thị Ninh về được thì có thể làm mộ chiêu hồn. Họ dự định xây dựng bài bản khu mộ thành khu tưởng niệm Hữu Loan, trở thành điểm đến cho những người yêu thơ...
    "Người ta dùng thuốc nổ cho đá nổ ra từng mảng lớn, rồi dùng tay đục lại thành viên đá bằng chừng cái balô để phu đá thồ đi. Việc thồ đá chỉ làm từ lúc sáng tinh mơ đến khoảng 9 giờ.
    Chiều, khi Mặt trời đã bắt đầu hết nóng rát lại ra làm đến chập choạng tối. Mỗi lần thồ cả khối đá, trời nắng quá thì không ai làm nổi. Vì nuôi con, cụ Tú Loan gầy gò mà khỏe khiếp lắm. Tuổi 60, ông vẫn đẩy xe cút kít chạy phăng phăng" - ông Ngô Văn Đương kể.

    ________________________________
    Hữu Loan có 10 người con. Họ sẽ không bao giờ quên ân tình của cha nuôi nấng con thơ qua thời khốn cùng.
    Nguyễn Ngọc Hùng

  6. #6
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 6: Nghèo vật chất mà giàu nghĩa nhân

    TTO - 'Con còn nhỏ, bố phải nằm khum lưng chồm che cho con khỏi ướt suốt cả đêm, vậy mà ông thường kêu mẹ dẫn mấy người ăn xin rách rưới, hôi hám, không nơi nương tựa về cho tá túc, ăn uống cùng', ông Nguyễn Hữu Vũ kể về cha - nhà thơ Hữu Loan.


    Nhà thơ Hữu Loan (ngồi giữa) cùng con cháu những năm 2000 - Ảnh: THÁI LỘC chụp tư liệu gia đình
    Nhà thơ Hữu Loan có 10 người con và có đến hơn 40 cháu chắt. Con cháu đều xem ông là một tấm gương nhân nghĩa, cả đời sống và nghĩ đến những người nghèo khổ, thấp bé trong xã hội.
    Bão về, gió chiều nào phải hùa nhau đứng vịn chống cột ngược lại chiều ấy cho khỏi sập nhà. Con còn nhỏ, bố phải nằm thế khum lưng chồm che cho con khỏi ướt suốt cả đêm, vậy mà ông thường kêu mẹ dẫn mấy người ăn xin rách rưới, hôi hám, không nơi nương tựa về cho tá túc, ăn uống cùng...
    Lễ giỗ ấm cúng

    Ngày 25-2-2020, nhằm ngày 3-2 năm Canh Tý, chúng tôi ghé nhà xưa của Hữu Loan ở làng Vân Hoàn đúng ngày giỗ 10 năm ông về miền thi ca vĩnh hằng.
    10h sáng, bà Nguyễn Thị Hương, người con thứ hai, đã đến mở cửa nhà. "Con cháu đã có nhà riêng, từ ngày bố mẹ mất không ai ở, chỉ ghé thắp nhang và mỗi năm một lần dồn về cúng giỗ", bà Hương vừa nói vừa lau bàn thờ.
    Bên ngoài, người cháu ngoại quét sân vườn, khói lá nghi ngút phủ lên căn nhà cũ kỹ mà năm xưa vợ chồng nhà thơ và 10 người con quây quần vượt qua khốn khó.
    Đợt giỗ lần này thiếu ba gia đình, đó là người con đầu Nguyễn Hữu Cương đang ở TP.HCM, con gái thứ bảy Nguyễn Thị Định ở Đồng Nai và con gái út Nguyễn Thị Triệu hiện ở Hàn Quốc.
    Bảy gia đình quây quần, nhà nào cũng đã ổn định kinh tế, không còn ai phải thiếu hụt khó khăn như thời của bố. Mỗi gia đình đều chuẩn bị hoa quả và một vài món đem đến bày biện, dâng cúng.
    Ngay sau dâng hương, mâm cỗ được bày dưới mái tôn trên sân trước, có đủ các món từ gà, nộm, bánh lá, bánh lọc, cà ri bò, nem rán, canh mực, canh miến nấu cua...
    "Ông cụ thích ăn rau lắm. Ông ăn uống dễ, thanh đạm, chỉ cần cơm với ít rau cũng xong bữa", bà Hương mở đầu câu chuyện về người bố đã đi xa đúng 10 năm. Tất cả như chợt nín lặng khi người con Nguyễn Hữu Đán nhắc: "Chúng ta đang ngồi ở chỗ nhà tre nứa tám mái của ông cụ anh nhỉ?"...
    Những câu chuyện cũ bỗng ùa về. Nào là chuyện ông tự làm nhà, chở đá nhọc nhằn. Nào là chuyện ông muốn chụp lại cái cảnh ngôi nhà từ đọt cây dừa bên hồ cá mà không biết bằng cách gì.
    Chuyện ông tự tay đào ao, chở đá xanh từ núi Vân Hoàn về xếp bờ ao, làm thêm mấy bậc tam cấp đá dẫn xuống làm chỗ rửa chân. Rồi chuyện ông mỗi ngày thắp nhang cạnh tảng đá xanh cạnh bên, hoặc uống trà hay rượu đều rưới lên tảng đá cho thập loại chúng sinh không nơi nương tựa mà hồn còn lẩn khuất đâu đây...
    Đòi đánh nếu không trả giấy báo nhập học
    Khui chai rượu mang từ Đức về giỗ bố để mời mọi người, ông Nguyễn Hữu Đán lần lượt giới thiệu cho chúng tôi về người nhà. Với tay sang bà Hương, ông Đán nhắc kỷ niệm cũ của bố: "Chị Hương giờ đã là giáo viên về hưu, mà năm xưa không có bố xông vào ty giáo dục tìm giấy báo thì không làm giáo viên được đâu".
    Câu chuyện lại kéo về ngày đói khổ, vợ chồng nhà thơ người thồ đá, người làm bánh bán chui nuôi con. Những người con của Hữu Loan ngày ấy chỉ học bổ túc, nhưng trí nhớ và sự thông minh thì cả làng biết đến.
    Con trai cả Nguyễn Hữu Cương sau thi đại học biết mình đủ điểm du học Liên Xô. Vậy mà giấy báo nhập học chờ hoài không thấy, dù Hữu Loan mấy lần đạp xe lên huyện và lên tỉnh hỏi thăm. Đời ông Cương từ đó rẽ sang hướng khác, quần quật đủ thứ nghề chân tay cho tới khi con gái vào TP.HCM lập nghiệp rồi theo vào.
    Đến lượt bà Hương thi sư phạm cũng gặp cảnh không nhận được giấy báo. Thương con gái và cũng muốn con làm nghề dạy chữ, Hữu Loan đạp xe thẳng lên Ty giáo dục Thanh Hóa. Những người trên ty lại bảo về hỏi huyện, huyện bảo hỏi xã, xã lại chỉ cấp trên. Tức mình, ông xông thẳng vào ty giáo dục, bảo nếu không trả giấy thì không về.
    Ông Đán kể: "Bực quá, bố xông vào xáo lục đống giấy tờ làm rối tung. Người phụ trách lúc ấy kêu ông đừng làm vậy rối loạn, hỏng hết việc.
    Ông bảo: "Chính tau đẻ ra cái này", ý nói ông từng tham gia thành lập chính quyền và làm chức tương đương phó chủ tịch, phụ trách giáo dục. "Nếu hôm nay mày không trả, tau đánh mày".
    Lần ấy, không những tìm được giấy báo nhập học cho con gái, ông còn tìm được cả giấy báo nhập học cho con trai đầu nhưng đã bị sửa thành Nguyễn Hữu Cường. Những người con cho rằng chính lý do ấy làm ông chán ngán không cho các con sau học đến nơi đến chốn.
    Người con gái thứ ba Nguyễn Thị Hà học hết bổ túc lớp 10, ông cho nghỉ ở nhà lấy chồng. Con trai thứ tư Nguyễn Hữu Vũ học hết lớp 7 cho theo nghề cơ khí, xẻ gỗ và người con gái kế út Nguyễn Thị Chung học hết lớp 9...
    Trường hợp ông Đán học xong phổ thông cũng nghỉ mở tiệm hàn ở quê. Đến năm 1991 khi cửa hàng đắt khách, ông Đán lại quyết chí đi học và đỗ vào ngành kiến trúc ở Hà Nội.
    Ông nhớ như in: "Bố bảo tôi thôi đừng đi học nữa, học hay làm gì thì cũng kiếm tiền. Có cửa hàng, có nghiệp vụ, có khách hàng, làm kiếm tiền lương thiện rồi. Lên Hà Nội cũng khó khăn, bố mẹ không có điều kiện giúp con được".
    Tuy nhiên, đó chỉ là những lo lắng của người cha trước thời cuộc. Khi ông Đán nói rõ sở thích được đi học của mình, người bố cũng không can ngăn nữa.

    Con cháu dâng hương lễ giỗ 10 năm thi sĩ về miền thi ca vĩnh hằng - Ảnh: SƠN LÂM
    Bài học nhân nghĩa
    Những người con nhắc rất nhiều đến sự dạy dỗ của một người bố rất ân tình, nhân nghĩa, luôn quan tâm và thương những thân phận nghèo khổ.
    Khi rời báo Văn Nghệ ở Hà Nội về quê trong cảnh túng thiếu, vậy mà Hữu Loan sẵn sàng cho một gia đình mượn nhà ông trước đó ở tiếp để thu hoạch hết vụ hoa màu trong vườn nhà.
    Phần mình, ông dẫn vợ con sang vùng Nga Điền, Nga Sơn xin cày mấy mẫu ruộng do người vào Nam bỏ hoang.
    "Cái nhà tự tay bố tôi làm lợp cói, cỏ năng. Mỗi đêm mưa dột, cả nhà phải lóp ngóp chen nhau che nước. Có đợt bão về, gió chiều nào phải hùa nhau đứng vịn chống cột ngược lại chiều ấy cho khỏi sập nhà.
    Con còn nhỏ, bố phải nằm thế khum lưng chồm che cho con khỏi ướt suốt cả đêm, vậy mà ông thường kêu mẹ dẫn mấy người ăn xin rách rưới, hôi hám, không nơi nương tựa về cho tá túc, ăn uống cùng.
    Thiếu thốn, nhà chật còn không đủ chỗ cho con đông vậy mà cảnh mấy người ăn xin chen ăn, chen ngủ trong nhà như một điều tự nhiên" - ông Nguyễn Hữu Vũ kể và cho rằng tình thương người trong mấy người con cứ thế thấm dần theo bố.
    Phần mình, nhà thơ Hữu Loan rất trực tính, nghiêm nghị, đôi khi đánh con sai quấy. Khi con cái hục hặc với nhau, ông chỉ đánh đứa lớn hơn, vì ông cho rằng đứa lớn thì sẽ làm gương được cho đứa nhỏ.
    Tuy nhiên, ông cũng là một người cha rất tinh tế, không bao giờ dạy con theo khẩu hiệu mà gần như mọi lúc mọi nơi, từng ngày từng giờ để dạy con, phân giải cho con cái hiểu mọi thứ khúc mắc.
    "Đặc biệt thấy làm sai là ông nói ngay, chứ không dạy dỗ theo kiểu hình thức phải thế này, thế nọ. Bố là người rất sát thực và có khả năng nhìn thấu tim mỗi người con. Bố cũng dạy mỗi người mỗi khác, hễ ai có tính xấu thì bố sẽ có cách để làm giảm tính xấu lại", ông Đán xúc động nhắc nhớ bố mình.
    “Lúc tôi đang là sinh viên ở Hà Nội, bố rất lo tôi bị nghiện hút vì nước da tôi trắng và gầy. Có lần về nhà, bố bảo tôi leo lên dọn mấy cây dừa trong vườn và hái xoài rồi đứng dưới dõi theo.
    Đến khi tôi làm một hơi hết 5 cây, leo xuống thở hổn hển thì bố cười bảo: “Mày còn làm được như thế thì đúng là chưa nghiện hút thật”. Đấy, bố luôn có cách tinh tế, lo toan và để ý con kiểu ấy” - ông Nguyễn Hữu Đán cho biết.


    Vào miền Nam sau gần 30 năm "ẩn cư" dưới chân núi Vân Hoàn, Hữu Loan đã viết những câu thơ tự sự:
    "Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh
    Suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn".

    Nguyễn Ngọc Hùng

  7. #7
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 7: Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh

    TTO - Cuối thập niên 1980, trong chuyến đi đầu tiên vào miền Nam sau gần 30 năm 'ẩn cư' dưới chân núi Vân Hoàn, nhà thơ Hữu Loan đã viết những câu thơ miêu tả mình: 'Tôi là cây gỗ vuông chành chạnh/ suốt đời đã làm thất bại mọi âm mưu đẽo tròn'.


    Suốt đời nhà thơ Hữu Loan sống chính trực, khí phách - Ảnh THÁI LỘC chụp lại tư liệu gia đình
    Hữu Loan bảo đó chính là "chân tính" của mình. Những người từng biết nhà thơ đều thừa nhận ông đã đi qua một cuộc đời nhiều biến động, thăng trầm chỉ bằng một lối đi duy nhất: chính trực.

    "Bận làm người"

    Trong khuôn viên xưa cạnh đình Vân Hoàn, đến nay vẫn còn ngôi nhà do Hữu Loan làm từ những năm 1980. Căn nhà nhỏ, ngói đã dột nát nhiều chỗ. Bờ tường vá víu xen kẽ mấy mảng gạch và bờ lô cũ kỹ loang lổ, những thanh tre làm rường cột, vì kèo cũng đã mục oằn.
    Nơi tá túc thời gian dài của gia đình nhà thơ cùng khách khứa là... người ăn xin không chốn dung thân. Và đây là căn nhà thứ hai do Hữu Loan làm nên.
    Trước đó khi mới về lại thôn Vân Hoàn, Hữu Loan đã tự tay dựng nên căn nhà mái cói và cỏ năn bứt ngoài bãi sông, cột kèo tre, xoan đốn hạ trong vườn. Còn vách nhà chỉ là mấy tấm phên đính tạm xung quanh.
    Nhà không có cửa, ban đêm cả vợ chồng, con cái, mỗi người ngủ trên một ổ lót bằng rơm hoặc lá chuối khô. Mùa lạnh ai nấy chui vào bao gai, giữa nhà đốt thêm thanh củi lớn để sưởi ấm.
    Cũng vì căn nhà tuềnh toàng chẳng giống ai như thế, có một câu chuyện về sau được lan truyền về tính khí của Hữu Loan. Người con trai Nguyễn Hữu Đán kể: "Bố vốn là một cán bộ về quê, chính quyền địa phương cho rằng ông đi thồ đá, làm nhà cửa sơ sài, họ kêu lên chất vấn ông sao không làm nhà đàng hoàng mà ở.
    Ông trả lời thẳng: Tau bận làm người!". Câu nói "bận làm người" còn được kể nhắc nhiều lần, nhất là khi những vị khách mà ông không mặn mà "ghé thăm" căn nhà rách nát.
    Cám cảnh túng khó, khoảng năm 1990 Hội Văn nghệ Thanh Hóa đã quyên góp được chừng 20 triệu đồng có ý in giúp Hữu Loan tập thơ bán lấy tiền hỗ trợ. Nhưng về Vân Hoàn thấy căn nhà quá dột nát, họ chuyển hướng xây nhà cho cụ.
    Hội cử người sang gặp lãnh đạo Tỉnh ủy Thanh Hóa xin thêm 20 triệu đồng, nói để in thơ cho Hữu Loan nhưng thực chất bù tiền làm nhà. Vị phó bí thư tỉnh ủy lúc ấy đã "quyết" những 22 triệu nên ngôi nhà tình nghĩa (nay còn thấy) mới được tiến hành.
    Người trực tiếp lo việc này là ông Nguyễn Văn Túy, kể: "Chúng tôi phải đấu dịu là tiền do anh em trong hội văn nghệ quý mến góp lại, cụ mới đồng ý".
    Ban đầu thi sĩ Mầu tím hoa sim đưa ý tưởng làm nhà giữa ao, trên mấy trụ bêtông rồi bắc cầu sang để trồng sen tỏa hương. Nhưng ông Túy bảo tiền chỉ đủ dựng mấy cái cọc và tấm lát cầu nên ông mới đồng ý theo bản vẽ do một kiến trúc sư chuẩn bị từ trước.
    Hồi đó việc xây nhà "quy mô" ở Nga Sơn là cả vấn đề lớn, bởi "vài cọng thép, mấy bao ximăng chở đi ngoài đường cũng phải có giấy phép".
    Cũng may nhờ có giấy phép cấp trên và những người thực hiện trong vai cán bộ cấp tỉnh lẫn ý kiến từ trên tác động mà công việc tiến hành thuận tiện. Kể cả việc mở mới lối đi cho xe chở vật liệu ngay sau đình Vân Hoàn. Nhờ vậy mà lối vào cố trạch Hữu Loan rộng rãi, thay cho con hẻm vòng vo nhỏ hẹp trước đó.

    Một số kẻ không ưa, nhưng nhiều người rất mến mộ Hữu Loan - Ảnh THÁI LỘC chụp lại tư liệu gia đình
    Không bỏ qua chuyện bất bình
    Chứng kiến nhiều cảnh đói khổ quanh mình, Hữu Loan cho rằng do địa phương đã làm sai. Nhà thơ gần như cự tuyệt, không tiếp xúc với một số cán bộ từ khi về "ẩn cư" ở thôn Vân Hoàn. Ông Nguyễn Hữu Đán giải thích: "Họ lo ngại bố tôi vì nhiều vấn đề lắm.
    Về nhà rồi ông hay phản đối thẳng thừng những chính sách không hợp lý của hợp tác xã như việc bỏ lúa trồng đay mà ông dự báo sẽ làm dân đói".
    Mãi tận cuối đời, một số cán bộ đến gặp, Hữu Loan vẫn tỏ thẳng thái độ không thích. Ông Ngô Đăng Khoa, chủ tịch UBND xã Nga Phượng, thừa nhận mình là người thôn Vân Hoàn, nhưng bản thân cũng rất khó tiếp xúc được với nhà thơ yêu thích.
    Sống với tâm trạng như thế, mỗi khi ra đường gặp phải chuyện gì bất bình, Hữu Loan sẵn sàng tham gia phân giải. Về điều này, cháu ngoại của Hữu Loan là Mỵ Quỳnh Lê - giảng viên khoa KHXH Đại học Hồng Đức - viết lại trên tạp chí Xứ Thanh tháng 11-2019: "Những đám tranh cãi nhau, đánh nhau không đám nào ông bỏ qua.
    Đám nào ông cũng can dự với vai trò như một quan tòa. Hễ thấy ai phải là ông bênh vực bảo vệ, ai trái là ông sẵn sàng "tát sưng mồm" đứa "điêu ngoa", "xảo trá".
    Có người bị ông tát nhưng chỉ dám ôm miệng hỏi: "Cháu làm gì ông mà ông đánh cháu?". Ông trỏ thẳng mặt: "Tau đứng đây, tau lắng rồi. Mày sai, mày là đứa đểu, tau phải trừng trị những đứa đểu như mày".
    Người con trai Nguyễn Hữu Vũ cũng xác nhận: "Ông hay thế lắm, thấy hai đám đánh nhau mà biết bên đúng bị yếu thế thì ông nhảy vào bênh liền. Nhiều lúc cũng bị đánh cho sứt mẻ. Nhưng ông chẳng sợ, về nhà còn lấy chuyện đó làm vui".
    Rất nhiều người nhớ đến Hữu Loan với tư cách con người chính trực, hiệp nghĩa. Năm 2010, khi đám tang Hữu Loan đang diễn ra, cả người thân lẫn người chia buồn đều ngạc nhiên khi thấy một đội kèn tây từ nhà thờ giáo xứ Tam Linh (xã Nga Thắng, Nga Sơn) đến xin đồng ca đưa tiễn.
    Người con trai Nguyễn Hữu Đán kể khi hành lễ xong, đội kèn tây mới giới thiệu là từ 60 năm trước, khi các vùng Công giáo còn khá biệt lập, Hữu Loan lúc bấy giờ là cán bộ cấp cao ở địa phương đã có ơn giúp đỡ giáo xứ dù chính ông phải gặp không ít khó khăn. Cha xứ lúc bấy giờ đã ghi lại di nguyện, truyền các đời cha xứ sau rằng phải trả ơn ông Hữu Loan".
    Tâm sự về nhà thơ mà mình yêu quý, nhà văn lịch sử Hoàng Quốc Hải nói lời tận ruột gan: "Ông có cá tính rất ghê gớm. Tính cách ông khẳng khái.
    Cả xã hội đi một đường nhưng ông có thể đi một đường khác. Một người can đảm phi thường thì mới sống như thế được. Dù những năm tháng đói, rách, làm những công việc nặng nhọc như thồ đá nhưng ông không bao giờ kêu khổ. Một người trí thức, tinh thông chữ Pháp, chữ Nho...".
    Người thương, kẻ ghét
    Là người thân với Hữu Loan hồi kháng chiến chống Pháp và giai đoạn nhà thơ làm báo Văn Nghệ ở Hà Nội, ông Hoàng Giáp (tức Hoàng Tấn Anh, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn pháo binh 523, sư đoàn 304 từng tham chiến ở Điện Biên Phủ) từng kể có rất nhiều kỷ niệm về tính tình chính trực của bạn.
    "Một hôm, anh Hữu Loan tạt qua tôi mượn tiền. Tôi biết anh gặp chuyện gì khó lắm mới vậy, bởi tính anh không thích nhờ cậy. Tôi dúi tiền cho anh mà không hỏi lời nào. Nhưng Hữu Loan lại tự giải thích mượn giúp mấy bạn văn gặp khó, mặc dù tôi biết chính Hữu Loan cũng rất khổ".
    Ông Giáp kể thêm có lần chứng kiến Hữu Loan mặt đỏ bừng bừng chạy qua ông mượn chiếc xe đạp để đi gấp.
    Ông hỏi đi đâu thế, Hữu Loan vừa quay đầu xe vừa nói toáng lên: "Tau đi chửi cái thằng thủ trưởng ác nhân. Con người ta có mấy cái tem phiếu nuôi vợ con mà nó cũng cắt bóp. Mả cha nó".
    Hữu Loan đi đấu tranh cho bạn hết lòng như thế, nên cuộc đời nhà thơ có rất nhiều người thương quý, cũng lắm kẻ quyền hành ghét cay ghét đắng.



    Nguyễn Ngọc Hùng

  8. #8
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 8: Đồi sim vẫn tím chiều hoang

    TTO - Thơ Hữu Loan đến nay được đăng không nhiều, nhưng chỉ vài tuyệt phẩm tình yêu như Màu tím hoa sim, Hoa lúa đã đưa ông lên hàng tượng đài thi ca bất tử.


    Bao năm qua và rất nhiều năm nữa, nhân gian vẫn thổn thức với:
    "Tôi về không gặp nàng
    Má ngồi bên mộ con đầy bóng tối
    Chiếc bình hoa ngày cưới
    thành bình hương tàn lạnh vây quanh"...

    Bên tượng Hữu Loan
    Bảo tàng Văn học Việt Nam hôm chúng tôi đến đang đóng cửa tránh dịch, hai hôm sau mới mở cửa. Gian trưng bày nhà thơ Hữu Loan ở tầng năm, nằm cạnh nhà văn Kim Lân và Bùi Hiển; đối diện với nhà thơ Quang Dũng và Hoàng Cầm.
    Bức tượng đồng bán thân Hữu Loan rất sống động do người con trai út Nguyễn Hữu Đán chuyển tặng.
    Sự gợi nhớ không chỉ ở dòng chữ "Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt", mà còn ở bó hoa sim chen lẫn hoa lúa vắt trên vai mang hồn hai bài thơ Mầu tím hoa sim và Hoa lúa gắn liền hai cuộc tình mà cũng là đỉnh cao sự nghiệp thi ca của nhà thơ Hữu Loan...
    Phần giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ ghi rõ ông là "hội viên sáng lập Hội Nhà văn VN năm 1957". Năm trang bản thảo bài thơ Mầu tím hoa sim thủ bút Hữu Loan viết trên giấy mỏng ố màu thời gian được ghi chú là tác phẩm đạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật lần thứ 3-2012.
    Phía trên là bức ảnh đen trắng thi sĩ ngồi trên chiếu cói cùng các bạn văn. Hàng dưới bày các đồ dùng thường nhật của nhà thơ như quạt máy để bàn, radio, phích nước, bộ ấm chén và điếu cày.
    Cảm động hơn cả là chiếc xe lăn gắn bên trên là chiếc ghế nhựa trắng cưa chân, một hiện vật làm gợi nhớ về hình ảnh nhà thơ những năm cuối đời...
    Nhà thơ Lê Quang Sinh - phó giám đốc bảo tàng, kể khi nhận nhiệm vụ sưu tầm hiện vật của Hữu Loan, ông gọi về một nhà văn ở Thanh Hóa và thất vọng khi người này bảo "bản thảo mọi thứ bị đốt hết rồi còn đâu nữa".
    May rằng sự thật ngược lại, ông được những người con tạo điều kiện hết mức, sưu tầm được nhiều thủ bút Hữu Loan. Đặc biệt là bản thảo tập thơ Hoa lúa do Hội VHNT Thanh Hóa đã hoàn thành biên tập nhưng chưa in vì dành tiền xây nhà tình nghĩa cho nhà thơ.
    Hiện vật này được xem độc bản, rất nhiều thủ bút chỉnh sửa vô cùng quý giá. Cùng "hai ôtô hiện vật" chở về còn có thêm cây trúc trong vườn nhà thơ, hiện đang xanh tốt trong khuôn viên bảo tàng.
    Nhà thơ Hữu Thỉnh - chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam kiêm giám đốc bảo tàng, là người mê thơ Hữu Loan từ hồi còn đi học. Ông nhận xét Hữu Loan là một trong những nhà thơ thế hệ kháng Pháp tiêu biểu.
    Nhưng khác với nhiều tác giả khác có thể chỉ một bài, Hữu Loan có nhiều bài trên các bút pháp khác nhau, thể hiện sự đa dạng của tâm hồn và cảm xúc...

    Con trai út Nguyễn Hữu Đán lưu giữ nhiều bản thảo chưa công bố của Hữu Loan - Ảnh: THÁI LỘC
    Những bức ảnh xưa quý giá
    KTS Nguyễn Hữu Đán hẹn gặp chúng tôi tại trụ sở Công ty CP Bảo tồn di sản văn hóa kiến trúc Việt mà ông làm giám đốc ở Hà Nội.
    Ông dẫn chúng tôi lên tầng thượng, nơi dựng ngôi nhà gỗ phong cách xưa làm nhà truyền thống công ty. Trên bàn gỗ ở gian bên, bức tượng đồng kèm bài vị sơn thếp cùng một số kỷ vật của người cha Hữu Loan.
    Câu chuyện kéo đến giữa khuya, ông dẫn chúng tôi lên tầng ba thắp hương cho bố mẹ trên bàn thờ gỗ sơn thếp rất đẹp ở nhà riêng. Trên chiếc tủ gỗ cũ kỹ được giới thiệu của bố và chuyển về từ Vân Hoàn, một bức tượng Hữu Loan, nhiều tranh, ảnh và bằng công nhận Giải thưởng Nhà nước...
    Ông lục album gia đình, có rất nhiều bức ảnh xưa quý hiếm về nhà thơ. Đặc biệt là bức ảnh chân dung thời trai trẻ vô cùng hiếm hoi (mà về sau nhà thơ Hữu Thỉnh đề nghị chúng tôi chuyển lại cho Bảo tàng Văn học Việt Nam).
    Tôi hỏi ngay chiếc bình hoa xưa, ông bảo kỷ vật đó quá đặc biệt, quá sâu nặng đối với bố. Ngày xưa đó chính là "chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh" được bố đặt trên bàn thờ mẹ Ninh ở Vân Hoàn.
    Bố qua đời, sợ thất lạc vì nhà xưa không ai ở, ông đã thỉnh về Hà Nội. Và vì nó quá đặc biệt nên ông cất giữ kỹ lưỡng, cẩn thận qua nhiều lần chốt khóa. Bảo tàng Văn học Việt Nam rất muốn có hiện vật này nhưng ông phân vân bởi có ý định lập bảo tàng về bố tại gia đình...
    Nhiều tác phẩm chưa đăng
    Điều mong đợi nhất với chúng tôi là lúc giữa khuya ông Đán cẩn thận lấy ra các bản thảo bạc màu thời gian của bố. Thủ bút Mầu tím hoa sim (khóc vợ xấu số là Minh Đức Lê Đỗ Thị Ninh) nằm trong tập vở có in hình hai bé trai và gái vác xẻng lao động đề năm "49".
    Đặc biệt, phần cuối bài thơ rất khác với bản lưu hành quen thuộc:
    "... Áo anh sứt chỉ đường tà
    Vợ anh mất sớm...
    Màu tím hoa sim tím tình tang lệ rớm
    Trong tím màu hoa tôi ví vọng về đâu
    Tôi với vọng về đâu
    Áo anh sứt chỉ dù lâu
    Ráng vàng ma
    Và kèn rúc điệu quân hành vang vọng chập chờn
    Theo bóng những binh đoàn biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
    Tôi ví vọng về đâu
    Tôi với vọng về đâu
    Áo anh sứt chỉ dù lâu".

    Có nhiều bài thơ nổi tiếng khác như Đèo Cả, Tục đèo Cả, Hoa lúa, Quách Xuân Kỳ, Thánh mẫu hài đồng thủ bút nhà thơ, nhiều chỗ sửa chữa, gạch xóa.
    Đặc biệt, một tập khá dày dùng chỉ khâu gáy, mục lục trước bìa đề các tác phẩm: Khát vọng hiến dâng, Huyền thoại người trâu ngựa, Ác hoa và nấm độc, Bi khúc địa cầu, Một mảnh hồn quê, Trần trụi 87, Chuyện tôi về.
    Một tập trường ca khác ghi trong tập vở kẻ ô li của học sinh đề "hoàn chỉnh" khoanh trong nét mực tròn, ghi các phần: "I: Giải khúc hoàng hôn, II: Cuộc tiễn đưa kỳ lạ, III: Chuyện đi về. Rồi trường ca Trần trụi 87 hành được quay ronéo dài, ông Đán cho biết do một người quen đánh giúp nên nhiều khả năng không phải độc bản mà có thể có một vài bản.
    Qua các bản thảo mới biết Hữu Loan từng sáng tác rất nhiều câu đối, dịch nhiều thơ Pháp và thơ Đường. Đặc biệt hơn cả là nhiều trang viết nội dung đậm chất suy tưởng, tự sự về các học thuyết, triết học, tôn giáo, văn chương nghệ thuật và nhân tình thế thái...
    Chúng tôi được cầm trên tay những bản thảo với nét bút bay bổng của thi sĩ tài hoa mà cảm xúc dâng trào. Người con trai tâm sự nhiều bài thơ trên được bố viết trong giai đoạn chu du Bắc - Nam cuối thập niên 1980. Nhiều bài trong đó viết các vấn đề thời sự, "chưa đăng và chưa đăng được"...

    Gian trưng bày nhà thơ Hữu Loan tại Bảo tàng Văn học Việt Nam - Ảnh: THÁI LỘC
    Xứng đáng được tôn vinh
    "Nhắc đến thơ ca kháng Pháp không thể không nhắc Hữu Loan với những bài thơ đi sâu vào lòng người. Nhà thơ sử dụng những bút pháp cũng như đề tài rất khác nhau. Từ tính chất hoành tráng, chiến đấu quyết liệt, đầy hào khí như bài Đèo Cả đến những bài trữ tình đắm đuối như Màu tím hoa sim.
    Lại có những bài phảng phất tình yêu rất trong sáng như Hoa lúa. Những bài đó đã in vào tâm trí nhiều thế hệ, rất xứng đáng được tôn vinh"
    Nhà thơ HỮU THỈNH (chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam)

    "Cuối đời, bố tôi thường xuyên bảo: Tau thấy mẹ tau về. Kiểu như bố tôi cảm nhận bà nội tôi về rủ ông đi. Thấy chúng tôi thắp nhang lên bàn thờ mẹ Ninh ("nàng thơ" Mầu tím hoa sim), ông cũng dặn: Bọn bây nhớ cúng giỗ bà cho to vào".
    Nguyễn Ngọc Hùng

  9. #9
    Senior Member
    Ngày tham gia
    Jan 2013
    Bài viết
    522
    Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ cuối: Tinh anh còn mãi ngàn sau

    TTO - Tối 18-3-2010, nhiều hãng tin, báo chí tiếng Việt trong và ngoài nước đều đưa tin thi sĩ Hữu Loan qua đời, tác giả tuyệt phẩm Mầu tím hoa sim đã trải xong đoạn trường 94 năm dạo cõi phù sinh để về miền thi ca vĩnh hằng.


    Chân dung Hữu Lo an qua nét vẽ của họa sĩ Bùi Quang Ngọc - Ảnh do gia đình cung cấp
    Con cháu cho hay - ông minh mẫn đến phút cuối đời và ra đi như ngọn đèn dầu đã cạn.
    Đời thanh thản, cười tinh anh

    Trong năm cuối đời, ông Mai Văn Lễ, chồng con gái thứ 3 Nguyễn Thị Hà, mỗi ngày thường ba bữa lo cơm cháo chăm sóc bố mẹ vợ. Thời điểm ấy, vợ chồng ông mở hàng ăn ở thôn 2, xã Nga Nhân (Nga Sơn, Thanh Hóa), cách nhà bố mẹ hơn cây số.
    Mỗi sáng, bà Hà đi chợ mua con cá ngon hay con cua gạch về, ông đem đến nấu mời bố mẹ. Mỗi bữa, ông Lễ bới cháo lươn, bữa cháo thịt bò băm nhỏ hoặc bò băm cùng lươn xé nhỏ trộn đều vào cháo. Người bố vợ cũng rất thích món cháo nấu bằng dây chằng gan lợn băm nhỏ, hầm với nước xương lươn.
    Tôi ở đơn vị về
    Cưới nhau xong là đi
    Từ chiến khu xa
    Nhớ về ái ngại
    Lấy chồng thời chiến binh
    Mấy người đi trở lại
    Nhỡ khi mình không về
    Thì thương
    người vợ chờ
    bé bỏng chiều quê...

    "Bố thường băn khoăn: "Được ăn sướng thế này, bố vẫn cứ thương những người khổ". Tôi bảo "Bố ạ, giờ người bình thường ăn sướng hơn rồi". Bố bảo "Thật à? Bố vẫn cứ thương người đói thôi", ông cứ nghĩ về người khác như thế", ông Lễ chia sẻ.
    Đang ngồi bán trái cây ở chợ Nga Phượng, con gái thứ 3 Nguyễn Thị Hà nói sau 10 năm xa biệt nhưng hình ảnh người bố, nhất là những nụ cười hiền từ, tinh anh cứ hằn in trong tâm trí.

    Bà rỉ rả: "Những lần cuối, bố cứ nhắc tôi: "Bố chỉ hơi lăn tăn là không có gì để lại cho các con, bởi bố nghèo". Tôi trả lời: "Chúng con không phàn nàn về những cái đó. Bố cho chúng con bộ óc thông minh để làm ăn với mọi người, chúng con mãn nguyện lắm rồi". "Con cũng nghĩ như thế à!", bố nói rồi cười.
    Bố suốt đời vất vả như thế, vậy mà bố thường khoe với chúng tôi là "Bố vẫn là người sướng nhất, sướng hơn mọi người. Bởi mọi chuyện đều tự tay bố làm nên, không lấy gì của ai, bố rất thanh thản", bà Hà hồi tưởng nụ cười tinh anh người bố lúc ấy. Bà nói tiếp: "Nghĩ về bố, tôi luôn tự hào".
    Minh mẫn đến phút cuối
    Bị thấp khớp do tuổi già, từ năm 2009, Hữu Loan bắt đầu yếu dần và nằm trên chiếc giường trong căn phòng nhỏ, cửa sổ hướng ra ao cá, phía bên kia là ngôi nhà cũ tự tay dựng nên.
    "Lúc bấy giờ, mỗi thứ bảy, chủ nhật tôi đều tranh thủ chở vợ con từ Hà Nội về chơi với bố mẹ. Lúc ấy, tôi cũng cảm giác là bố đã rất yếu rồi. Bố nằm lâu, tôi còn mua cái nệm nước về cho bố nằm đỡ xót lưng", người con trai Nguyễn Hữu Đán kể lại.
    Bệnh già làm giọng ông bắt đầu yếu đi, bản thân không tự trở mình ngồi dậy được, nhưng ông vẫn biết mọi sự xung quanh. Cuối năm 2009, con cháu nhà thơ vẫn nhớ chuyến thăm đặc biệt của ông Nguyễn Quốc Triệu, lúc ấy là bộ trưởng Bộ Y tế.
    Ông Đán kể: "Ông Triệu cho biết mình đã yêu bài Mầu tím hoa sim từ ngày còn sinh viên trường y, và bài thơ đi theo suốt thời gian ông Triệu vào chiến đấu tại chiến trường ác liệt nhất hồi đó là Quảng Trị.
    Một chuyến công tác tại Hòa Bình, ông Triệu nghe người ta mở bài hát Mầu tím hoa sim và nhớ ra năm 2009 là tròn 60 năm bài thơ ra đời, nên ông về Thanh Hóa thăm tác giả bài thơ".
    Sự minh mẫn của tác giả Hữu Loan thể hiện rõ khi nằm trên giường, ông vẫn cười vui khi nghe người đến thăm ngâm thơ. Đến đoạn "gió sớm thu về dờn dợn nước sông", thi sĩ đang mắt lim dim bỗng mở sáng: "rờn rợn chứ không phải dờn dợn".
    Cũng trong những ngày cuối, người cháu Nguyễn Hữu Dũng hay tin chú yếu, đóng vội cửa chùa ghé sang thăm: "Khi tôi vào nhà, thấy vài người vây quanh, tôi kêu "Chú ơi, cháu bận quá, giờ mới đến thăm chú được".
    Thấy tôi, ông còn bảo một người con: "Lấy cái gói bánh quy vừng cho Dũng ăn", vốn là loại bánh ông biết tôi rất thích. Trước khi ra đi chú vẫn minh mẫn lắm".
    Dường như chính nhà thơ cũng cảm nhận được sự ra đi của mình. Người con trai Nguyễn Hữu Vũ kể: "Những ngày gần cuối đời, bố tôi thường xuyên bảo: "Tau thấy mẹ tau về". Kiểu như bố tôi cảm nhận bà nội tôi về rủ ông đi. Thấy chúng tôi thắp nhang lên bàn thờ mẹ Ninh ("nàng thơ" Mầu tím hoa sim), ông cũng dặn nhớ cúng giỗ bà to vào".
    Giờ phút nhà thơ Mầu tím hoa sim chia lìa cuộc thế có người con dâu trưởng ở thôn kế bên sang chăm sóc cho bố mẹ chồng.
    Bà Nguyễn Thị Hương, con gái Hữu Loan ở cách đó chừng 10 cây số, kể lại: "Lúc đó, khoảng 6 giờ tối, chị dâu tôi mang cháo lên cho cụ thì cụ bảo: "Để bố nghỉ tí đã, bố còn hơi mệt, lát bố ăn". Chị dâu tôi quay ra lo cơm nước cho mẹ, lúc vào lại thì đã thấy cụ nằm yên. Bóp tay cho cụ thì mới hay cụ đã đi rồi. Mẹ tôi báo, tôi chạy sang, lúc ấy khoảng 7 giờ hơn".
    Ký ức bà Hương vẫn còn nguyên giờ phút ấy bên bố: "Cụ ra đi với nét mặt tươi như đang cười, trông rất thanh thản. Như ngọn đèn hết dầu rồi cụ đi thôi".

    Hữu Loan và Phạm Duy - tác giả Áo anh sút chỉ đường tà phổ thơ Màu tím hoa sim, tại căn nhà ở Vân Hoàn ngày 25-9-2006 - Ảnh: PHONG QUANG
    Nhập cùng hồn nước
    Nhà thơ Hữu Loan ra đi, chật kín người về đưa tiễn, phúng viếng. Những người ở vùng Nga Sơn, Thanh Hóa vẫn cho đó là đám tang lớn nhất từ trước đến nay.
    "Sân đình Vân Hoàn lúc ấy không còn chỗ đậu xe. Vòng hoa không biết bao nhiêu mà kể. Đến ngày đi tiễn, người đưa nối dài hơn cả cây số từ sân nhà ra đến tận đất mộ phần", bà Hương kể.
    Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, xúc động đọc điếu văn: "...Ai đã đến với Hữu Loan dù chỉ một lần thì không bao giờ quên... Từ thơ ông và từ con người ông toát lên vẻ đẹp thuần khiết của một thi nhân và ngọn lửa ấm của một nghệ sĩ cách mạng.
    Hữu Loan là sở hữu tinh thần hôm qua, hôm nay và mai sau của chúng ta. Những gì mà ông đã để lại sẽ còn mãi mãi với quê hương và đất nước và sẽ được các thế hệ đời sau nhớ mãi.
    Nhớ mãi nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi một nghị lực, một tấm gương hiếm có, vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt để giữ trọn sự cao khiết của hồn thơ. Hình ảnh thi nhân chở đá xây đời từ sự thật đầm đìa mồ hôi đã thành biểu tượng cao lộng...
    Từ hồn quê, hôm nay Hữu Loan nhập cùng hồn nước. Gánh nặng của đời thi nghiệp thơ giờ đây ông dồn lên vai tất cả chúng ta...".
    Một năm sau, về Vân Hoàn dự giỗ đầu nhà thơ Mầu tím hoa sim, nhà văn lịch sử Hoàng Quốc Hải được nghe lại lời điếu văn mà lòng còn "rờn rợn": "Giọng nhà thơ Hữu Thỉnh đọc điếu văn cứ vang lên thể hiện sự xúc động.
    Ai cũng khen bài điếu văn hay, bởi nó toát lên được cái thần thái và cả những quặn thắt đoạn trường trong sự nghiệp của nhà thơ Hữu Loan - một nhân cách, một tài năng, một cá tính độc đáo... Rõ ràng nhà thơ Hữu Loan được tôn vinh về phẩm giá và sự nghiệp".
    “Ngày ông mất, bà ngoại tôi không khóc, nước mắt người già đã khô cạn, không kịp vắt đủ mấy giọt minh chứng cho nỗi đau của chia xa vĩnh viễn. Tôi cũng không khóc. Lúc còn sống, ông vẫn nói với chúng tôi: sống trên đời này chỉ là cõi tạm, còn cuộc sống dưới kia (chỉ âm phủ) mới là cõi vĩnh hằng.
    Nên ông nhắc nhở đám cháu nội - ngoại của ông, phải sống sao cho đẹp, cho hay để khi về “bên kia” không còn gì để nuối tiếc. Ông luôn nhắc nhở chúng tôi không được sát sinh. Mỗi sinh vật đều có sự sống, đều ham sống, sợ chết, sợ đớn đau như con người ...”
    MỴ QUỲNH LÊ (Tạp chí Xứ Thanh, 11-2019)

    Nguyễn Ngọc Hùng

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn không thể tạo chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của bạn
  •